Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các ngân hàng Ấn bản ICC số 725 (Uniform Rules for Bank-to-Bank Reimbursement – URR 725) có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/10/2008 thay cho URR 525. URR 725 có gì mới so với URR 525 là câu hỏi mà những người thực hành LC ở các Ngân hàng quan tâm. Nhằm đáp ứng yêu cầu; bài viết dưới đây được tổng hợp và gửi tới bạn về URR 725 của Gary Collyer – Cố vấn Kỹ thuật của Uỷ ban Thực hành và Kỹ thuật Ngân hàng ICC. 

URR 725

Bối cảnh ra đời của URR

Quy tắc thống nhất về hoàn trả giữa các Ngân hàng (Uniform Rules for Bank-to-Bank Reimbursements Ấn bản ICC số 525); gọi tắt là URR 525 được ICC xuất bản vào tháng 11/1995; và có hiệu lực áp dụng vào ngày 1/7/1996. Vào lúc đó; các uỷ quyền hoàn trả đã bắt đầu được phát hành bằng các đồng tiền khác với đồng tiền đã được sử dụng phổ biến là đô la Mỹ, Do vậy, sự ra đời của một bộ các quy tắc quốc tế được xem là cần thiết. Cũng cần lưu ý rằng; trước đó nhiều năm ở Mỹ đã có quy tắc về hoàn trả giữa các Ngân hàng; và chính quy tắc này đã hình thành cơ sở cho việc thiết lập các nguyên tắc để xem xét trong quá trình dự thảo URR 525.

Từ ngày 1/7/1996, các Ngân hàng phát hành phải đứng trước quyết định về việc các uỷ quyền hoàn trả của họ nên tuân thủ theo URR 525 hay Điều 19 UCP 500. Nhằm khuyến khích sử dụng URR; và giảm bớt khả năng có thể xảy ra tình trạng nhập nhằng đối với các quy tắc áp dụng; SWIFT đã bổ sung vào cẩm nang của mình mẫu điện MT740 (Uỷ quyền hoàn trả) cho phép URR 525 được áp dụng một cách tự động; trừ khi có quy định khác.

Có thể nói rằng việc sử dụng URR ở mỗi nước cũng có sự khác nhau; và điều này chắc chắn cũng sẽ tiếp tục lặp lại đối với URR 725 khi nó bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1/10/2008.

Hiện nay, hầu hết LC được phát hành cho phép thanh toán bằng chiết khấu; và Ngân hàng phát hành đều quy định việc hoàn trả đối với một sự xuất trình phù hợp trên cơ sở trả ngay; hoặc vào một ngày trong tương lai. Hình thức phát hành này phủ nhận nhu cầu đối với các chỉ thị hoàn trả giữa các Ngân hàng xuất hiện trong LC. Tuy nhiên, vẫn có cơ hội để các hoàn trả giữa các Ngân hàng tuân thủ theo URR.

Những thay đổi trong URR 725

Không nên xem URR 725 là bản sửa đổi của URR 525. Đó chỉ là một tiến trình cập nhật theo cách đã từng áp dụng đối với eUCP; tức là chỉ thay đổi văn phong để phù hợp với UCP 600 mà thôi. Những thay đổi này được các uỷ ban quốc gia ICC tại Uỷ ban Ngân hàng ICC thông qua hồi tháng 4/2008.

Những thay đổi của URR 725 gồm việc loại bỏ việc viết hoa các thuật ngữ; và thay đổi ngữ pháp để phù hợp với từ ngữ được sử dụng trong UCP 600. Ví dụ, hình thức số nhiều “s” đã loại bỏ khỏi các quy tắc và thuật ngữ “honour” (thanh toán) được sử dụng thay cho cụm từ “pays, incurs a deferred payment undertaking, accept draft(s)” (trả tiền, cam kết trả chậm, chấp nhận hối phiếu).

Điều 1 được thay đổi cho phép ghi rõ trong uỷ quyền hoàn trả là tuân thủ theo các quy tắc “… uỷ quyền hoàn trả ghi rõ rằng nó tuân thủ theo các quy tắc này”. Do có sự thay đổi này và từ ngữ của Điều 13 (a) UCP 600 nên điện SWIFT trước đây quy định việc uỷ quyền hoàn trả sẽ tự động tuân thủ theo URR có hiệu lực vào ngày phát hành nay không còn giá trị áp dụng nữa. Cũng như điện MT700, người phát hành MT740 được yêu cầu phải ghi luật áp dụng, hoặc là URR LATEST VERSION (URR bản mới nhất) hoặc NOTURR (Không áp dụng URR). Sử dụng “NOTURR” có nghĩa là các quy tắc được nêu tại Điều 13 UCP 600 sẽ áp dụng.

Điều 6 (a) liên quan đến hiệu lực của uỷ quyền hoặc sửa đổi uỷ quyền đã được thay đổi để phản ánh quan điểm của UCP 600, tức là, loại bỏ trường hợp gửi xác nhận bằng thư theo sau điện chuyển bằng viễn thông. Trong mọi trường hợp, điện chuyển bằng viễn thông được xem là công cụ có hiệu lực, và bất kỳ xác nhận bằng thư theo sau sẽ không được xem xét.

Tại Điều 6 (d) (iv) và 8 (b) thuật ngữ “có thể chiết khấu tự do” (freely negotiable) đã được thay bằng “LC có thể thanh toán tại bất kỳ ngân hàng nào” (LC available with any bank) để phù hợp với từ ngữ được sử dụng tại Điều 6 (a) UCP 600.

Bổ sung thêm Điều 9 (g) với quy định: “Ngân hàng hoàn trả bị ràng buộc không huỷ bỏ phải thanh toán yêu cầu hoàn trả kể từ lúc phát hành cam kết hoàn trả” để phù hợp với khái niệm của UCP 600 tại Điều 7 (b) (cam kết của ngân hàng phát hành) và Điều 8 (b) (cam kết của ngân hàng xác nhận). Phần còn lại của Điều 9 đã được đánh số thứ tự lại để sắp xếp thêm Điều 9 (g) mới được bổ sung này. Điều 9 (h) (iii), đối với các sửa đổi, cũng đã được bổ sung tương tự để phù hợp với khái niệm của UCP 600 tại Điều 10 (b).

Tại Điều 11 (e) vấn đề liên quan đến bảo lưu hoặc bảo đảm bồi hoàn đã được loại bỏ. Cho dù ngân hàng đòi tiền đã thanh toán trên cơ sở có bảo lưu hoặc có bảo đảm bồi hoàn hay không thì điều đó không liên quan đến ngân hàng hoàn trả. Ngân hàng hoàn trả không dính dáng đến việc kiểm tra chứng từ, xác định sự phù hợp hoặc cách thức thanh toán hoặc chiết khấu chứng từ xuất trình.

Có thể một số người thực hành không để ý thấy rằng tại Điều 11 (e) URR 525 thuật ngữ “honour” (thanh toán) đã được sử dụng, mặc dù thuật ngữ này không xuất hiện trong UCP 500. Tại Điều 11 (e) URR 725 việc sử dụng thuật ngữ “honour” không thay đổi bởi nó đã được sử dụng theo nghĩa chung hơn chứ không theo cách mà thuật ngữ “honour” được định nghĩa trong UCP 600.

Điều 13 (Luật nước ngoài và sử dụng), Điều 14 (Miễn trách về việc chuyển điện) và Điều 15 (Bất khả kháng) đã được thay đổi để phù hợp với từ ngữ của UCP 600.

Điều 16 quy định về chi phí đã được sửa đổi để phù hợp với quy định UCP 600: các chi phí của ngân hàng hoàn trả sẽ do ngân hàng phát hành chịu. Dĩ nhiên, quy định này có thể được sửa đổi nếu uỷ quyền hoàn trả quy định các chi phí đó là do người thụ hưởng chịu.

Áp dụng URR hay Điều 13 UCP 600?

Như đã nêu ở đầu bài viết, URR được sử dụng không phổ biến và trong khi một tỷ lệ lớn không sử dụng được cho là do hình thức thanh toán của LC, thì vẫn có một số Ngân hàng chọn UCP làm quy tắc. Giữa Điều 13 UCP 600 và URR 725 có những kẽ hở rất đáng lưu ý.

URR 725
  • Điều 2 định nghĩa các bên và các sản phẩm liên quan đến các hoàn trả..
  • Điều 3 tạo ra sự tách bạch giữa LC và uỷ quyền hoàn trả.
  • Điều 4 quy định ngân hàng hoàn trả không có nghĩa vụ hoàn trả trừ khi có cam kết hoàn trả (xem Điều 9).
  • Điều 5 quy định về trách nhiệm của ngân hàng phát hành đối với việc không cung cấp thông tin cần thiết trong uỷ quyền hoàn trả;.
  • Điều 6 quy định về các yêu cầu phát hành một uỷ quyền hoàn trả (mặc dù SWIFT MT740 sẽ nhắc về việc điền hầu hết các thông tin này); ngân hàng phát hành không thể gửi một bản sao LC thay cho một uỷ quyền hoàn trả; hình thức uỷ quyền hoàn trả; các yêu cầu đối với thông báo ghi nợ trước hoặc thông báo trước về yêu cầu đòi tiền.
  • Điều 7 quy định ngân hàng phát hành có thể không xem xét bất kỳ ngày hết hạn hiệu lực nào được nêu trong uỷ quyền hoàn trả; ngân hàng phát hành phải huỷ uỷ quyền hoàn trả nếu toàn bộ hoặc một phần không được sử dụng.
  • Điều 8 quy định liên quan đến các sửa đổi đối với các uỷ quyền hoàn trả.
  • Điều 9 quy định về việc phát hành cam kết hoàn trả; các yêu cầu đối với uỷ quyền; cam kết và các sửa đổi đối với cam kết hoàn trả.
  • Điều 10 quy định về các yêu cầu đối với yêu cầu hoàn trả ngay hoặc kèm theo một hối phiếu có kỳ hạn để ngân hàng hoàn trả chấp nhận.
  • Điều 11 quy định thời hạn tối đa để xử lý một yêu cầu hoàn trả (3 ngày làm việc của ngân hàng sau ngày nhận được yêu cầu hoàn trả) và quy định thời hạn xuất trình yêu cầu đòi tiền theo một hoàn trả đáo hạn vào một ngày trong tương lai.
  • Điều 12 quy định về hiệu lực của yêu cầu hoàn trả trùng lặp.
  • Điều 13 quy định về luật nước ngoài và việc sử dụng (giống Điều 37 (d) UCP 600).
  • Điều 14 quy định về trường hợp điện tín, thư hoặc các chứng từ bị thất lạc trên đường đi, bị trì hoãn hoặc cắt xén (giống Điều 35 UCP 600).
  • Điều 15 quy định về trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng (giống Điều 36 UCP 600).
  • Điều 16 quy định về các chi phí do ngân hàng phát hành chịu trừ khi có quy định khác.

Rõ ràng Điều 13 UCP 600 đã không bao hàm hết tất cả các khía cạnh của việc xử lý hoàn trả. Đây là một quan điểm có chủ ý nhằm khuyến khích việc sử dụng các quy tắc được thiết kế riêng cho sản phẩm. Mở rộng nội dung của Điều 13 UCP 600 để bao hàm thêm nhiều phạm vi của việc xử lý hoàn trả sẽ không đạt được mục đích có lợi.

Thực tế, vào thời điểm sửa đổi UCP 500, một trong những câu hỏi được đặt ra là liệu URR có thể bị sáp nhập vào UCP 600 hay không. Ngay từ đầu của quá trình sửa đổi, URR được xác định là sẽ vẫn tồn tại như là một bộ quy tắc riêng. ISP98 quy tắc 8.04 cũng đã quy định: “Bất kỳ chỉ thị hoặc uỷ quyền đòi lại tiền hoàn trả từ một ngân hàng khác đều tuân thủ theo quy tắc tiêu chuẩn của ICC về việc hoàn trả giữa các Ngân hàng.”

Ý tưởng về việc có một bộ các quy tắc là nhằm củng cố ý thức chắc chắn đối với giao dịch. URR (525 và 725 sắp có hiệu lực) cố gắng để đạt được mục đích này. Nội dung của Điều 13 UCP 600 chỉ bao hàm những yếu tố cần thiết tối thiểu mà không giải quyết được những cái riêng. Ngân hàng phát hành có thể thấy Điều 13 UCP 600 linh hoạt hơn do nội dung của nó không được quy định đầy đủ, nhưng vì mục đích đưa vào tập quán quốc tế, việc thông qua URR 525 và nay là URR 725 có hiệu lực áp dụng từ ngày 1/10/2008 cần được xem xét một cách nghiêm túc.

Xem thêm về URR 725.pdf.

(Dịch và giới thiệu: Nguyễn Hữu Đức)

Trên đây là thông tin về URR 725 và những điểm mới mẻ, khác biệt so với URR 525. Với những nhân viên Ngân hàng, đặc biệt nhân viên làm việc tại các vị trí liên quan cần nắm được những kiến thức nghiệp vụ này. Đừng quên theo dõi những chuyên mục Điểm tin UB Academy, Diễn đàn U&BankBlog UBNET để cập nhật những tin tức mới nhất ngành Ngân hàng.